Ngày Thế giới phòng, chống HIV/AIDS 01/12 và tháng Hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS từ 10/11 - 10/12___Ngày Pháp luật 09/11/2017: Chủ đề: Tiếp tục hoàn thiện thế chế, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và đổi mới sáng tạo; Nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật; phòng chống tham nhũng, lãng phí; cải cách hành chính tháo gở vướng mắc khó khăn để đồng hành cùng người dân và doanh nghiệp; Khẩu hiệu: 1. Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật; 2.Tích cực hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; 3. Tích cực tìm hiểu pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật là trách nhiệm của mọi công dân; 4. Đẩy mạnh cải cách hành chính bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp; 5. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; 6. Hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật; tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, bình đẳng cho người dân và doanh nghiệp; 7. Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật nâng cao ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân; 8. Xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật hỗ trợ khởi nghiệp, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp. 9. Xây dựng xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật là góp phần xây dựng nông thôn mới. 10. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, đảm bảo công khai, minh bạch, chống nhũng nhiễu, tiêu cực.____________Biện pháp phòng bệnh sốt xuất huyết: 1. Đậy kín tất cả dụng cụ chứa nước để muỗi không vào đẻ trứng. 2. Hàng tuần, thực hiện các biện pháp diệt lăng quăng bằng cách thả cá vào dụng cụ chứa nước lớn; xúc rửa dụng cụ chứa nước vừa và nhỏ; lật úp các dụng cụ không chứa nước; thay nước bình bông; bỏ muối hoặc dầu vào chén nước kê chân tủ. 3. Hàng tuần, thu gom và loại bỏ các vật dụng không sử dụng, như: lon bia, lon nước ngọt, chai, lọ, mảnh chai, vỏ dừa, mảnh lu vỡ, lốp xe, vỏ xe cũ, hốc tre, bẹ lá,... để muỗi không vào đẻ trứng. 4. Ngủ mùng, mặc quần áo dài tay dài chân kể cả ban ngày để phòng muỗi đốt. 5. Vệ sinh sạch sẽ, sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp những vật dụng, đồ đạc trong nhà để tránh muỗi trú ngụ. 6. Tích cực phối hợp với ngành Y tế trong các đợt phun hóa chất phòng, chống dịch. 7. Khi bị sốt đến ngay cơ sở y tế để được tư vấn, khám và điều trị. Không tự ý điều trị tại nhà.________Biện pháp phòng bệnh tay chân miệng: Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng với nước sạch (cả người lớn và trẻ em), đặc biệt trước khi chế biến thức ăn, trước khi ăn/cho trẻ ăn, trước khi bồng bế trẻ, sau khi đi vệ sinh, sau khi thay tã và làm vệ sinh cho trẻ; nên ăn chín, uống chín; không mớm thức ăn cho trẻ; không cho trẻ ăn bốc, mút tay, ngậm mút đồ chơi; không cho trẻ dùng chung khăn ăn, khăn tay, vật dụng ăn uống (như ly, chén, đĩa, muỗng,…); thường xuyên rửa, lau sạch các bề mặt, dụng cụ tiếp xúc hàng ngày như đồ chơi, dụng cụ học tập, tay nắm cửa, tay vịn cầu thang, mặt bàn/ghế, sàn nhà,… bằng xà phòng hoặc các chất tẩy rửa thông thường; không cho trẻ tiếp xúc với người bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh; cách ly trẻ bệnh tại nhà, không cho trẻ bệnh đến nhà trẻ, trường học, nơi các trẻ chơi tập trung trong 10-14 ngày đầu của bệnh. Chào mừng quí vị đến với trang thông tin điện tử của Trung tâm Truyền thông - Giáo dục sức khỏe tỉnh Sóc Trăng! - The center of health communication and education in Soc Trang province ____________________

Những vị thuốc quý từ quả nhót

 

Bắt đầu vào mùa nhót, bạn có thể bắt gặp nhót được bày bán ở khắp các khu chợ. Ngoài vị hấp dẫn của nhót xanh dầm muối ớt, nấu canh chua, nhót chín ngọt lịm ăn chơi.., nhót còn được chế biến thành các món ăn chữa bệnh rất hiệu quả.

Lá nhót chứa tanin, saponosid, polyphenol.

Theo YHCT, quả nhót có vị chua, chát, tính bình, vào các kinh phế đại tràng, có tác dụng chỉ ho, trừ đờm, bình suyễn, chỉ tả. Lá có vị chát có tác dụng chỉ ho, bình suyễn, giảm sốt.

Nhân hạt nhót có tác dụng sát khuẩn, trị giun sán. Rễ có tác dụng cầm máu, giảm đau, thường dùng dưới dạng thuốc sắc, dùng riêng lẻ hoặc phối hợp với các vị thuốc khác. Liều dùng hằng ngày: quả 8 - 12g (5 - 7 quả khô), lá tươi 20 - 30g, lá và rễ (khô) 12 - 16g. Dùng ngoài dưới dạng nước tắm, rửa mụn nhọt, không kể liều lượng.

Theo các thực nghiệm về sinh học, lá nhót có tác dụng kháng khuẩn đối với nhiều chủng vi khuẩn gram dương và gram âm; đặc biệt đối với các chủng trực khuẩn lỵ: Shigella dysenteria, Shigella shiga, Shigella flexneri, Shigella sonnei. Trên động vật thí nghiệm, lá nhót có tác dụng chống viêm cấp và mạn tính; tác dụng tăng cường sức co bóp của tử cung.

nhung-bai-thuoc-quy-chua-benh-tu-qua-nhot-12

Quả nhót, lá nhót, hạt nhót đều có thẻ dùng làm thuốc

Các dược liệu từ nhót thường được dùng trị một số chứng bệnh sau đây:

Trị lỵ trực khuẩn và bệnh tiêu chảy, viêm đại tràng mạn tính:

Lấy 20 - 30g lá nhót tươi hoặc 6 - 12g lá nhót khô, sao vàng, sắc với 400ml nước còn 100ml, chia 2 lần uống trong ngày, trước các bữa ăn 1,5 giờ. Có thể uống liền 1 - 2 tuần đến khi hết các triệu chứng. Hoặc dùng dưới dạng bột khô lá nhót, ngày 2 - 3 lần, mỗi lần 8 - 12g, uống với nước cơm; hoặc phối hợp đồng lượng với bột của vỏ cây đỗ trọng nam. Lưu ý: khi uống cần kiêng các thức ăn tanh, lạnh: cá cua, ốc, ếch...

Trị ho, nhiều đờm, hen suyễn:

Lá nhót 16g sao vàng, lá táo ta (táo chua) 12g sao vàng; hạt cải củ, hạt cải bẹ, mỗi thứ 6g, sao vàng, giã giập. Hạt cải củ, cải bẹ gói vào miếng vải sạch, cho vào cùng sắc nước với lá nhót và lá táo. Sắc 2 - 3 lần, gộp dịch nước sắc lại, chia 3 lần uống trong ngày trước bữa ăn 1,5 giờ. Uống liền 2 - 3 tuần đến khi các triệu chứng thuyên giảm.

Trị ho, hen, khó thở:

Có thể dùng quả nhót 6 - 12g/ngày, dưới dạng thuốc sắc, thuốc hãm, hay thuốc bột. Uống nhiều ngày, tới khi các triệu chứng thuyên giảm.

Trị ho ra máu, hoặc nôn ra máu, chảy máu cam:

Rễ nhót 16g sao đen, sắc uống ngày một thang. Có thể phối hợp với cỏ nhọ nồi, ngải diệp, trắc bách diệp. Tất cả đều sao đen, sắc uống ngày một thang, chia 3 lần uống trước bữa ăn 1,5 giờ. Trong khi uống thuốc, cần kiêng các thứ cay nóng: rượu, bia, ớt...

Kiêng kỵ: Lá và rễ nhót không dùng cho phụ nữ có thai.

Khi sử dụng nhót, cần tránh nhầm lẫn với vị thuốc nhót tây, còn gọi nhót Nhật Bản, hay tỳ bà diệp. Nhót tây mọc hoang và được trồng ở nhiều ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Nội... Nhót tây cao tới 6 - 8m. Lá mọc so le, hình mác, có răng cưa, dài 12 - 30cm, rộng 3 - 8cm, phía mặt dưới của lá có rất nhiều lông màu xám hay vàng nhạt. Đây là đặc điểm nổi bật để phân biệt với nhót. Lá nhót tây cũng được sử dụng để trị ho, hen.

GS. TS. Phạm Xuân Sinh

www. suckhoedoisong.vn

TÌM KIẾM

LIÊN KẾT WEBSITE