____ 1. Các biện pháp phòng bệnh sốt xuất huyết: ____ - Đậy kín các dụng cụ, vật dụng chứa nước; ____ - Thả cá vào dụng cụ, vật dụng chưa nước; ____ - Cọ, rửa các dụng cụ, vật dụng chứa nước thường xuyên; ____ - Thường xuyên thay nước bình hoa; đổ nước đọng trong các dụng cụ, vật dụng chứa nước; ____ - Bỏ muối, dầu hoặc hóa chất vào chén kê dưới tủ; ____ - Loại bỏ, lật úp các vật liệu phế thải, như: chai, lọ, vỏ dừa, mảnh lu vỡ, lốp xe, vỏ xe, hốc tre, bẹ lá,...; ____ - Ngủ mùng, mặc quần dài, mặc áo dài; ____ - Tích cực phối hợp với ngành y tế trong các đợt phun hóa chất; ____ - Khi bị sốt hãy đến ngay cơ sở y tế để được khám, tư vấn và điều trị; không được tự ý điều trị tại nhà. ____ 2. Các biện pháp phòng bệnh tay chân miệng: ____ - Không để trẻ: ăn bốc; mút tay; ăn chung chén, muỗng và đưa đồ chơi lên miệng; ____ - Che miệng và mũi bằng khăn giấy khi hắt hơi và ho; ____ - Thu gom, xử lý rác, chất thải, phân,… đúng cách; ____ - Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng với nước sạch; vệ sinh sạch sẽ đường mũi, họng, mắt hàng ngày; ____ - Vệ sinh sạch sẽ đồ chơi, dụng cụ học tập, sàn nhà, mặt bàn, vật dụng tiếp xúc khác. ____ 3. Chủ đề ngày Quốc tế Người cao tuổi 01/10/2018: “Tôn vinh gương sáng người cao tuổi trong đấu tranh bảo vệ quyền con người”. ____ 4. Chủ đề ngày Sức khỏe Tâm thần Thế giới 10/10/2018: “Tuổi trẻ và sức khỏe tâm thần trong thế giới thay đổi”. ____ 5. Chủ đề ngày Thị giác Thế giới 11/10/2018: “Eye Care Everywhere - Chăm sóc mắt cho mọi người dù ở bất kỳ nơi đâu”. ____ 6. Tiêm bổ sung vắc-xin bại liệt: Trẻ em đủ 5 tháng tuổi sẽ được tiêm bổ sung một liều vắc-xin bại liệt trong tiêm chủng thường xuyên. - Việc sử dụng thêm một liều vắc-xin bại liệt tiêm giúp tăng cường miễn dịch phòng bệnh bại liệt cho trẻ. ____ 7. Chủ đề Tuần lễ “Dinh dưỡng và Phát triển” từ ngày 16 – 23/10/2018: “Thực hiện dinh dưỡng ngay hôm nay giúp cải thiện thể lực, tầm vóc, trí tuệ và chất lượng cuộc sống ngày mai” ____ ____ __________Chào mừng quí vị đến với trang thông tin điện tử của Trung tâm Truyền thông - Giáo dục sức khỏe tỉnh Sóc Trăng! - The center of health communication and education in Soc Trang province ____

Điều trị viêm phổi cộng đồng ở trẻ em

Viêm phổi mắc phải ở cộng đồng là một bệnh hô hấp thường gặp, có thể tiến triển nặng gây nhiều biến chứng. Viêm phổi mắc phải từ cộng đồng được xác định như một tình trạng nhiễm trùng cấp tính của nhu mô phổi có nguyên nhân do bị nhiễm trùng từ cộng đồng. Đó cũng là tiêu chuẩn để phân biệt với viêm phổi mắc phải từ bệnh.

Nguyên nhân và triệu chứng

Viêm phổi mắc phải ở cộng đồng bao gồm các nhiễm khuẩn phổi xảy ra ngoài bệnh viện, biểu hiện bằng viêm phổi thùy, viêm phổi đốm hoặc viêm phổi không điển hình. Đặc điểm chung là có hội chứng đông đặc phổi và bóng mờ phế nang hoặc mô kẽ trên phim Xquang phổi.

Nguyên nhân gây bệnh viêm phổi trẻ em thường do vi khuẩn như H.influenza, S.pneumonia...; do virut như virut hợp bào hô hấp (RSV), virut cúm A, B...; do ký sinh trùng hay nấm như Candida, Toxoplasma..., viêm phổi do phế cầu, viêm phổi do H. influenzae, viêm phổi do tụ cầu.

Chẩn đoán bệnh viêm phổi dựa vào lâm sàng là chính. Trẻ viêm phổi khi có dấu hiệu thở nhanh. Nhịp thở nhanh tùy theo từng độ tuổi quy định như sau: trẻ dưới 2 tháng tuổi, nhịp thở từ 60 lần/phút trở lên; trẻ 2 - 12 tháng tuổi, nhịp thở từ 50 lần/phút trở lên; trẻ từ 12 tháng đến 5 tuổi, nhịp thở từ 40 lần/phút trở lên. Ngoài nhịp thở nhanh, trẻ có dấu hiệu ho và sốt, có ran ẩm nhỏ hạt khi nghe phổi. Nếu không được xử lý kịp thời trẻ sẽ bị viêm phổi nặng hơn có biểu hiện rút lõm lồng ngực, thở rên, tím tái, bú kém, co giật...

Trẻ viêm phổi khi có dấu hiệu thở nhanh

Điều trị VPCĐ thế nào?

Từ những nghiên cứu cho thấy việc trẻ bị viêm phổi cần sử dụng kháng sinh bởi vì không thể phân biệt được viêm phổi do vi khuẩn hay do virut. Sử dụng kháng sinh amoxicillin dạng thuốc uống được chọn ban đầu. Các thuốc thay thế là co-amoxiclav, cefaclor, erythromycin, azithromycin và clarithromycin. Ngoài ra, có thể thêm macrolides nếu không đáp ứng với điều trị ban đầu hoặc nghi viêm phổi do mycoplasma/chlamydia hoặc bệnh rất nặng. Việc sử dụng kháng sinh uống an toàn và hiệu quả ngay cả với một số trường hợp nặng. Cần sử dụng kháng sinh tiêm cho các trường hợp viêm phổi nặng có biến chứng hoặc có dấu hiệu nhiễm trùng huyết hoặc không dung nạp (ví dụ nôn) hoặc có vấn đề giảm hấp thu thuốc qua đường uống.

Trẻ dưới 2 tháng tuổi: Khi mắc viêm phổi cần điều trị ngay tại cơ sở y tế bằng cách sử dụng benzyl penicillin hoặc ampicillin kết hợp với gentamicin (tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch) dùng 1 lần trong ngày. Một đợt dùng từ 5-10 ngày. Trường hợp bệnh nhi viêm phổi rất nặng dùng cefotaxime 100-150mg/kg/ngày tiêm tĩnh mạch chia 3 - 4 lần.

Trẻ mắc viêm phổi ở 2 tháng đến 5 tuổi: Trường hợp viêm phổi nhẹ nên điều trị ngoại trú có thể sử dụng cotrimoxazole hoặc amoxycillin. Theo dõi sau 2-3 ngày. Nếu đỡ thì tiếp tục điều trị cho đủ từ 5-7 ngày. Nếu không đỡ hoặc nặng thêm sẽ chuyển điều trị  như viêm phổi nặng.

Trường hợp viêm phổi nặng (co rút lồng ngực) sẽ được điều trị tại bệnh viện bằng benzyl penicillin hoặc ampicillin. Theo dõi sau 2-3 ngày. Nếu đỡ thì tiếp tục điều trị cho đủ 5-10 ngày. Nếu bệnh nhân không đỡ hoặc nặng thêm cần điều trị như viêm phổi rất nặng.

Viêm phổi rất nặng (co rút lồng ngực, tím tái, li bì...), điều trị tại bệnh viện bằng sử dụng benzyl penicillin, phối hợp với gentamicin (tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch) hoặc chloramphenicol. Một đợt dùng 5-10 ngày. Theo dõi sau 2-3 ngày. Nếu đỡ thì tiếp tục điều trị cho đủ 7-10 ngày hoặc ampicillin kết hợp với gentamicin (tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch). Nếu bệnh nhân không đỡ đổi 2 công thức ở trên cho nhau hoặc đổi sang cefuroxime.

Viêm phổi ở trẻ 2 tháng đến 5 tuổi nếu nghi ngờ viêm phổi do tụ cầu: Điều trị bằng oxacillin (tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch) kết hợp với gentamicin. Nếu không có oxacillin có thể thay bằng cephalothin (tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch) + gentamicin hoặc vancomycin.

Viêm phổi ở trẻ trên 5 tuổi: Điều trị bằng benzyl penicillin, cephalothin hoặc cefuroxime, hoặc ceftriaxone, amoxy/clavulanic hoặc ampicillin/sulbactam; (H. influenzae sinh beta-lactamase  cao).

Phát hiện và điều trị biến chứng

Sau khi điều trị nếu trẻ vẫn sốt và tình trạng chung không tốt lên sau 48 giờ điều trị cần phải khám, đánh giá lại và chụp Xquang ngực để phát hiện các biến chứng. Nếu tràn dịch và tràn khí màng phổi ở mức độ ít thì không cần điều trị ngoại khoa mà chỉ cần tiếp tục điều trị kháng sinh. Nếu tràn dịch nhiều và có suy hô hấp cần phải dẫn lưu màng phổi.

Viêm phổi ở trẻ em là một bệnh viêm đường hô hấp dưới nặng cần được phát hiện sớm và điều trị kịp thời. Đồng thời, cần có các biện pháp phòng ngừa cơ bản không để bệnh xảy ra như thường xuyên giữ vệ sinh vùng mũi họng. Ngoài ra, có thể dùng các biện pháp phòng bệnh chung làm giảm nguy cơ mắc bệnh như tiêm phòng vaccin: H.influenzae type b (Hib), ho gà (Bordatella pertusis), phế cầu (S.pneumonia), cúm... cũng là một giải pháp để giảm nguy cơ mắc bệnh.           

PGS.TS. Nguyễn Tiến Dũng

www.suckhoedoisong.vn

TÌM KIẾM

LIÊN KẾT WEBSITE