____ ____ 1. Ngày Quốc tế Người cao tuổi 01/10: ____ • Góp sức, chung tay chăm sóc sức khỏe người cao tuổi; ____ • Gia đình và cộng đồng hãy tạo điều kiện cho người cao tuổi sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc. ____ 2. Ngày Sức khỏe Tâm thần Thế giới 10/10: ____ • Nếu bạn có dấu hiệu hoặc triệu chứng nào của bệnh tâm thần, hãy đến gặp bác sĩ để được khám và chữa bệnh; ____ • Hãy quan tâm, chăm sóc người mắc bệnh tâm thần; ____ • Không kỳ thị, phân biệt, đối xử với người mắc bệnh tâm thần. ____ 3. Ngày Thị giác Thế giới 11/10: ____ • Mọi người hãy chăm sóc mắt cho dù ở bất kỳ nơi đâu; ____ • Khám mắt định kỳ mỗi năm một lần để kiểm tra các bệnh liên quan đến mắt; ____ • Hạn chế sử dụng điện thoại, máy tính,… và hạn chế xem tivi, đọc sách,… nhiều giờ liền để tránh ảnh hưởng đến mắt. ____ 4. Tuần lễ “Dinh dưỡng và Phát triển” từ ngày 16 – 23/10: ____ • Để thai nhi phát triển tốt, bà mẹ cần ăn uống đầy đủ, khám thai ít nhất 3 lần và uống viên sắt/acid folic theo hướng dẫn; ____ • Thực hiện chăm sóc dinh dưỡng sớm trong 1000 ngày đầu đời giúp trẻ phát triển tối ưu cả về thể chất, tầm vóc và trí tuệ khi trưởng thành; ____ • Cho trẻ bú sớm trong vòng một giờ đầu sau sinh, bú hoàn toàn sữa mẹ trong 6 tháng đầu và bú đến 24 tháng tuổi hoặc lâu hơn; ____ • Bữa ăn bổ sung của trẻ cần đa dạng các nguồn thực phẩm, thêm mỡ hoặc dầu để tăng cường hấp thu vitamin A, D; ____ • Trẻ cần ăn uống lành mạnh, hợp lý và tăng cường vận động thể lực để phòng, chống thừa cân béo phì. ____ 5. Các biện pháp phòng bệnh sốt xuất huyết: ____ • Tham gia diệt lăng quăng: xúc rửa, thả cá bảy màu vào dụng cụ chứa nước; khai thông cống rãnh, phát quang bụi rậm; lật úp vật dụng phế thải chứa nước. ____ • Chống muỗi đốt bằng ngủ mùng, dùng nhang xua muỗi. ____ • Hợp tác khi phun hóa chất diệt muỗi. ____ • Đưa người bệnh nghi ngờ sốt xuất huyết đến cơ sở y tế gần nhất. ____ 6. Các biện pháp phòng bệnh tay chân miệng: ____ • Không để trẻ: ăn bốc; mút tay; ăn chung chén, muỗng và đưa đồ chơi lên miệng. ____ • Che miệng và mũi bằng khăn giấy khi hắt hơi và ho. ____ • Thu gom, xử lý rác, chất thải, phân,… đúng cách. ____ • Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng với nước sạch; vệ sinh sạch sẽ đường mũi, họng, mắt hàng ngày. ____ • Vệ sinh sạch sẽ đồ chơi, dụng cụ học tập, sàn nhà, mặt bàn, vật dụng tiếp xúc khác bằng chất sát khuẩn thông thường. ____ ____ ____ ____ ____ ____ ____ ____ ____ ____ __________Chào mừng quí vị đến với trang thông tin điện tử của Trung tâm Truyền thông - Giáo dục sức khỏe tỉnh Sóc Trăng! - The center of health communication and education in Soc Trang province ____

Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch - Kẻ giết người thầm lặng

 

Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch là gì?

Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (TTHKTM) bắt đầu từ cục máu đông trong tĩnh mạch, thường là các tĩnh mạch sâu ở cẳng chân hay đôi khi ở cánh tay và các tĩnh mạch khác. Đó là một bệnh mạch máu đứng hàng thứ ba sau cơn đau tim và đột quỵ, ảnh hưởng đến 300.000 - 600.000 người Mỹ mỗi năm.

Thật ra, vấn đề huyết khối tĩnh mạch hoàn toàn không mới. Nhà bác học Rudolf Virchow (1821 - 1902) là người đã làm sáng tỏ nguyên nhân của huyết khối tĩnh mạch và của thuyên tắc động mạch phổi. Mấy chục năm sau khi ông mất, người ta mới chính thức đưa ra lý thuyết hình thành cục máu đông, được biết dưới tên gọi tam chứng Virchow gồm 3 yếu tố cơ bản: tình trạng tăng đông của máu, sự ứ trệ của dòng máu, và tổn thương nội mạc mạch máu.

images/Picture1.png

Huyết khối tĩnh mạch sâu (HKTMS) sẽ to dần, gây trở ngại và tiến tới làm tắc dòng chảy của máu với các biểu hiện bệnh lý của chi, khi đó bệnh gọi là thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (TTHKTM). Khoảng 50% các trường hợp này đưa đến một biến chứng có thể nguy hiểm đến tính mạng người bệnh, đó là thuyên tắc động mạch phổi (TTĐMP) xảy ra khi cục máu nằm trong tĩnh mạch sâu vỡ ra và bong khỏi thành tĩnh mạch, các mảnh vỡ trôi về tim và đi sang động mạch phổi gây tắc. Các cục huyết khối ở đùi dường như dễ vỡ hơn và đi lên phổi nhiểu hơn so với các cục máu ở phần thấp cẳng chân hay ở các phần khác của cơ thể.

Huyết khối tĩnh mạch sâu và thuyên tắc động mạch phổi được coi là các biểu hiện của cùng một quá trình bệnh lý ở những thời điểm khác nhau, vì có tới 79% người bệnh TTĐMP có bằng chứng của HKTMS và 50% người bệnh HKTMS bị TTĐMP.

Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ của thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch

Các nguyên nhân dẫn dến HKTMS và TTĐMP thường gặp nhất là: phẫu thuật của vùng bụng, vùng chậu hay các phẫu thuật chi dưới, đa chấn thương, ung thư, gãy khớp háng, bất động và nằm viện lâu, liệt chi dưới do tổn thương tủy sống, tuổi cao, suy tim hay suy hô hấp, mang các đường truyền tĩnh mạch trung tâm, các bệnh di truyền và các bệnh máu mắc phải. Phẫu thuật chấn thương chỉnh hình đặc biệt là phẫu thuật thay khớp háng có đầy đủ ba yếu tố của tam chứng Virchow vì đó là phẫu thuật lớn nên có thể gây tổn thương cho mạch máu, tổn thương mô gây ra tăng đông, dòng máu  chảy chậm do hồi lưu tĩnh mạch bị cản trở. Chính vì yếu tố nguy cơ cao nên các người bệnh sau mổ thay khớp háng đều được dùng thuốc chống đông trong vòng 35 ngày.

Ở nữ giới, mang thai và sử dụng hoóc-môn như viên tránh thai hay dùng estrogen trong mãn kinh cũng là nguyên nhân quan trọng.

Lời khuyên cho những người béo phì, những người có bệnh lý tĩnh mạch từ trước, những người đi máy bay đường dài là nên đứng dậy và tập các bài tập căng cơ cẳng chân bằng cách đứng nhón gót, gồng cơ đùi và cẳng chân sau mỗi 4 giờ ngồi liên tục.

Tăng đông máu gặp nhiều hơn ở người tuổi trên 60, béo phì hay quá cân, ung thư, các bệnh tự miễn như lu-put, các nguyên nhân di truyền…

Triệu chứng và chẩn đoán của thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch

HKTMS và TTĐMP là nghiêm trọng, đe dọa tính mạng và cần được quan tâm về y tế.

Các dấu hiệu cảnh báo

HKTMS chủ yếu ảnh hưởng đến các tĩnh mạch lớn ở phần thấp cẳng chân và đùi, hầu như luôn luôn ở về một phía của cơ thể. Nếu người bệnh may mắn chỉ bị huyết khối tĩnh mạch đơn thuần thì sẽ gây ra:

- Đau cẳng chân, nhạy cảm của bắp chân hay đùi.

- Phù cẳng chân.

- Da hơi đỏ hay có các vệt đỏ, sờ ấm.

- Loét mạn tính vùng cẳng chân vì rối loạn dinh dưỡng do phù nề.

TTĐMP nguy hiểm đến tính mạng và xảy ra khi HKTMS vỡ ra, bong khỏi thành tĩnh mạch, trôi về tim và đi lên động mạch phổi làm tắc một phần hay toàn bộ dòng máu lên phổi, gây ra:

- Khó thở nhanh.

- Đau trong ngực (có thể đau hơn khi hít sâu).

- Nhịp tim nhanh.

- Đau đầu nhẹ.

Chẩn đoán

- Làm các xét nghiệm máu, kể cả thử nghiệm D-dimer (D-dimer là một mẩu protein có từ sự tan rã chậm của cục máu sau khi hình thành, được phóng thích vào máu) cùng với các xét nghiệm đông máu: thời gian prothrombin (PT), thời gian bán phần thromboplastin (PTT), fibrinogen, tiểu cầu.

- Đối với TTTMS: siêu âm cẳng chân hay được sử dụng nhất.

- Đối với TTĐMP: chụp cắt lớp hay dùng nhất. Đôi khi chụp cắt lớp thông khí - tưới máu phổi. Cả hai phương pháp này, có thể cho thấy hình ảnh cục huyết khối gây tắc bằng cách đưa chất cản quang vào động mạch.

Đề phòng nguy cơ hình thành huyết khối tĩnh mạch

TTHKTM là một bệnh rất nguy hiểm. Thật vậy, thống kê cho thấy, số tử vong hậu phẫu do TTHKTM mỗi năm ở Châu Âu nhiều hơn số chết do ung thư vú, tai nạn giao thông và AIDS cộng lại.

Từ năm 1884, Rudolph Virchow lần đầu tiên đưa ra ý kiến huyết khối là kết quả của ít nhất là 1 trong 3 yếu tố nguyên nhân cơ bản như đã nói ở trên.

Để đề phòng TTHKTM, những người có nguy cơ có thể dùng các thuốc chống đông, hay thuốc làm loãng máu, giúp ngăn ngừa phát sinh huyết khối tĩnh mạch. Đồng thời, những người này cũng cần tự vận động hai chi dưới bằng cách gồng cơ, sau mổ nhanh chóng rời khỏi giường nằm càng sớm càng tốt và đi lại sớm, hoặc sử dụng vớ ép tĩnh mạch…

Khả năng đề phòng TTHKTM vì lợi ích sức khỏe của cộng đồng là đáng kể: các số liệu từ các nghiên cứu ngẫu nhiên trên các người bệnh ngoại tổng quát cho thấy là việc dự phòng thích hợp ở các người bệnh có nguy cơ cao có thể đề phòng được TTHKTM cho 1 trong số 10 người bệnh và cứu sống được ≈1 trong số 200 người bệnh.

43

Điều trị thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch

Điều trị thường dùng các thuốc chống đông để giữ cho huyết khối không tiếp tục hình thành, và đôi khi dùng các thuốc phá cục huyết khối mạnh để thực sự làm tan rã các cục máu đông.
Các lựa chọn bao gồm:

- Các thuốc chống đông, gồm các thuốc tiêm như heparin hay heparin trọng lượng phân tử thấp hoặc các loại thuốc viên chống đông như apixaban, dabigatran, rivaroxaban, edoxaban và warfarin. Dùng trong một số tháng.

- Điều trị tan huyết khối với các thuốc như tissue plasminogen activator (tPA), Eminase (anistreplase), Retavase (reteplase), Streptase (streptokinase)… Các thuốc này có tác dụng làm tan cục máu đông, truyền vào tĩnh mạch ở cánh tay và cũng có thể truyền qua một catête dài cắm trực tiếp vào cục máu nằm trong tĩnh mạch hay trong động mạch phổi.

- Cũng có thể dùng phẫu thuật. Hoặc đặt một miếng lọc vào tĩnh mạch chủ dưới là tĩnh mạch lớn nhất của cơ thể, để ngăn không cho các cục máu đông đi lên phổi; hoặc làm phẫu thuật lấy bỏ cục máu lớn; hoặc tạo một mạch nối tắt để khôi phục dòng chảy của máu.

 http://www.bvdaihoc.com.vn 

TÌM KIẾM

LIÊN KẾT WEBSITE



phong lay

1

phong