____ ____ 1. Hưởng ứng Tuần lễ Nuôi con bằng sữa mẹ từ 01 – 07/8: ____  Bắt đầu cho bé bú sữa mẹ sớm trong vòng một giờ đầu sau sinh. ____  Cho bé bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời. ____  Tiếp tục cho bé bú sữa mẹ đến khi bé 2 tuổi hoặc hơn nữa. ____  Sau 6 tháng, bé cần được ăn thức ăn bổ sung và vẫn tiếp tục bú sữa mẹ. ____ 2. Các biện pháp phòng bệnh sốt xuất huyết: ____  Đậy kín các dụng cụ, vật dụng chứa nước. ____  Thả cá vào dụng cụ, vật dụng chứa nước lớn. ____  Cọ, rửa các dụng cụ, vật dụng chứa nước thường xuyên. ____  Loại bỏ, lật úp chai, lọ, vỏ dừa, mảnh lu vỡ, lốp xe, vỏ xe, hốc tre, bẹ lá, lon bia,... ____  Ngủ mùng, mặc quần dài, mặc áo dài tay kể cả ban ngày. ____  Sử dụng các loại nhang xua muỗi. ____  Phối hợp ngành Y tế trong các đợt phun hóa chất. ____  Khi bị sốt hãy đến ngay cơ sở y tế để được khám, tư vấn và điều trị; không được tự ý điều trị tại nhà. ____ 3. Các biện pháp phòng bệnh tay chân miệng: ____  Không để trẻ: ăn bốc; mút tay; ăn chung chén, muỗng và đưa đồ chơi lên miệng. ____  Che miệng và mũi bằng khăn giấy khi hắt hơi và ho. ____  Thu gom, xử lý rác, chất thải, phân,… đúng cách. ____  Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng với nước sạch; vệ sinh sạch sẽ đường mũi, họng, mắt hàng ngày. ____  Vệ sinh sạch sẽ đồ chơi, dụng cụ học tập, sàn nhà, mặt bàn, vật dụng tiếp xúc khác bằng chất sát khuẩn thông thường. ____ 4. Các biện pháp phòng bệnh sởi: ____  Khi đã mắc bệnh sởi thì người bệnh cần được cách ly từ 7 – 10 ngày để tránh lây lan trong cộng đồng. ____  Trẻ em và người lớn cần tiêm vắc-xin phòng bệnh sởi. ____  Nên thường xuyên rửa tay bằng xà phòng khi chăm sóc trẻ và tăng cường dinh dưỡng cho trẻ. ____ 5. Các biện pháp phòng bệnh viêm não Nhật Bản: ____  Đưa trẻ đi tiêm vắc-xin đầy đủ và đúng lịch ở các cơ sở y tế. ____  Diệt muỗi, diệt lăng quăng và chống muỗi đốt/chích. ____  Ngủ mùng, mặc quần dài, mặc áo tay dài. ____  Thực hiện tốt vệ sinh môi trường; nhà ở và chuồng trại chăn nuôi sạch sẽ. ____  Dời chuồng gia súc xa nhà và không để trẻ em chơi gần chuồng gia súc. ____  Đến ngay cơ sở y tế nếu bị sốt kéo dài. ____ ____ ____ ____ ____ ____ ____ __________Chào mừng quí vị đến với trang thông tin điện tử của Trung tâm Truyền thông - Giáo dục sức khỏe tỉnh Sóc Trăng! - The center of health communication and education in Soc Trang province ____

Sinh khó do kẹt vai - Tai biến sản khoa đáng sợ và bi thảm nhất

 

“Người chửa cửa mả” là câu nói ám chỉ sự nguy hiểm bất ngờ mà trong quá trình sinh đẻ người phụ nữ và thai nhi gặp phải. Mới đây là câu chuyện đau lòng về trường hợp trẻ sơ sinh tử vong được cho là bị "đứt cổ" trong lúc bà mẹ sinh con đã ám ảnh không ít người.

Thời gian qua, nhờ công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản bà mẹ tốt nên những tai biến sản khoa đã phần nào được kiểm soát. Mặc dù vậy cũng không phải là không xảy ra, những tai biến như băng huyết sau sinh, nhau cài răng lược, rối loạn đông máu, hội chứng HELLP, đờ tử cung… vẫn không ít lần làm bác sĩ hoảng hồn.

Tuy nhiên, có một tai biến sản khoa mà có lẽ thai phụ hay cả những người thường xuyên theo dõi thông tin y tế cũng ít được nghe đó là “sinh khó do kẹt vai”. Tai biến này cũng được coi là tai biết sản khoa đáng sợ và bi thảm nhất.

Kẹt vai xảy ra khi đầu của thai nhi đã đi qua được âm đạo nhưng vai của thai nhi vẫn bị kẹt trong khung chậu của mẹ. Đây là một cấp cứu sản khoa khá nguy hiểm, nếu không được xử lý kịp thời có thể gây nhiều nguy cơ cho cả mẹ và con. Trong trường hợp không được xử lý đúng cách, sẽ để lại những hậu quả nặng nề cho con.

Theo nhóm Bác sĩ Hồ Viết Thắng, Âu Nhựt Luân thuộc Bộ môn Phụ sản - Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, thời gian từ lúc sổ đầu tới khi sinh vai khoảng 60 giây được xem là có kẹt vai. Tỷ suất của kẹt vai vào khoảng từ 0,6 - 1,4%.

Yếu tố nguy cơ cổ điển của đẻ khó do vai là thai to, đặc biệt thai to trong đái tháo đường thai kỳ thì nguy cơ bị kẹt vai cũng cao hơn. Trong đái tháo đường thai kỳ, vai rất to so với đầu, nên kẹt vai có thể xảy ra ngay cả trong trường hợp thai không phải là quá to. Khi đó, đầu thai nhi có thể vượt qua tiểu khung dễ dàng nhưng vai sẽ không thể vượt qua được hành trình trong khung chậu dẫn đến kẹt vai.

sanh-kh-do-kt-vai-4-638

Những hậu quả do kẹt vai gây ra cho thai nhi và bà mẹ 

Tử vong sơ sinh tăng cao do ngạt và tổn thương hành não do kẹt vai.

Như đã nói ở trên, đầu thai đã sổ, tử vung đã bị thu hồi một phần nên thời gian càng kéo dài thì càng ảnh hưởng nghiêm trọng đến trao đổi qua nhau ở thai.

Thêm vào đó, việc cố gắng kéo thai bằng cách đặt một lực trên phần đầu thai nhi, kéo giãn cột sống cổ sẽ đưa thai nhi đối mặt với tổn thương hành não, nơi chứa các trung tâm sinh tồn. Do các lý do này, tử vong sau sinh gia tăng đáng kể trong kẹt vai.

Bên cạnh đó còn tổn thương đám rối thần kinh vai, cánh tay và bàn tay, có thể gây ra hiện tượng rung hay tê liệt các bộ phận này. Thường thì các triệu chứng trên sẽ biến mất khi trẻ được 6 - 12 tháng.

Thiếu oxy lên não, trong trường hợp thiếu oxy nặng (thường là hiếm), trẻ có thể bị tổn thương não thậm chí tử vong.

Đối với mẹ, có thể xuất huyết nghiêm trọng sau sinh; rách tử cung, âm đạo, cổ tử cung hoặc trực tràng.

Xử trí kẹt vai 

- Gọi người hỗ trợ bác sĩ sản khoa, hồi sức sơ sinh, gây mê.

- Làm trống bàng quang, kéo nhẹ thai nhi.

- Cắt rộng tầng sinh môn.

- Thủ thuật MC Roberts: một người phụ ấn trên xương mu, người đỡ sinh kéo thai nhi với lực kéo vừa phải. Sau thủ thuật này, hầu hết các trường hợp kẹt vai được giải quyết thành công.

Trong trường hợp trên mà thấy thất bại thì xoay đổi vai sau thành vai trước, hạ tay, sổ vai sau. Mục đích của thủ thuật là biến một vai trước cao thành vai sau ở vị trí thấp hơn, tận dụng khoảng không gian trống trước hõm cùng để làm thủ thuật. Nếu các thủ thuật trên thất bại, nguy cơ tử vong thai nhi là rất cao, các phương pháp có thể áp dụng lúc này: bẻ gãy xương đòn trước, mổ khớp mu hay đẩy thai nhi vào lại trong tử cung và mổ sanh.

Những đối tượng có nguy cơ gặp phải hiện tượng kẹt vai khi sinh 

Một phụ nữ mang thai sẽ có nguy cơ cao bị kẹt vai thai nhi khi sinh nếu: thai nhi quá lớn (tuy nhiên trong hầu hết các ca kẹt vai khi sinh, đứa bé đều có cân nặng bình thường), mẹ bị tiểu đường, mang thai đa, mẹ bị béo phì, sinh muộn sau ngày sinh dự kiến, đã từng có tiền sử bị kẹt vai khi sinh đứa con trước, người mẹ được kích thích đẻ, người mẹ được gây tê ngoài màng cứng khi sinh, người mẹ sinh thường nhưng sử dụng các công cụ hỗ trợ (ví dụ như bác sỹ sử dụng các dụng cụ như kẹp hoặc máy hút để đưa trẻ ra ngoài qua đường âm đạo).

Tuy nhiên, các chuyên gia y tế khuyến cáo hiện tượng kẹt vai có thể xảy ra ở bất cứ đối tượng nào ngay cả khi người mẹ không có những yếu tố nguy cơ nêu trên.

www.suckhoedoisong.vn

TÌM KIẾM

LIÊN KẾT WEBSITE



 phong lay

 phong