____ ____ 1. Dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con: ____  Mẹ không có HIV – Con không nhiễm HIV; ____  Phụ nữ mang thai cần xét nghiệm HIV trong 3 tháng đầu để dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con; ____  Hãy đến gặp cán bộ y tế để được tư vấn và điều trị nếu bạn bị nhiễm HIV và muốn sinh con; ____  Tuân thủ điều trị ARV giúp giảm lây truyền HIV từ mẹ sang con. ____ 2. Phòng, chống thiếu vi chất dinh dưỡng: ____  Dinh dưỡng hợp lý là nền tảng của sức khỏe, tầm vóc và trí tuệ; ____  khuyến khích lựa chọn thực phẩm có tăng cường vi chất dinh dưỡng; ____  Cho trẻ bú sớm, nuôi trẻ hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và tiếp tục cho trẻ bú sữa mẹ đến 24 tháng tuổi hoặc lâu hơn; ____  Cho trẻ trong độ tuổi uống vitamin A liều cao 2 lần/năm, bà mẹ sau sinh trong vòng một tháng uống một liều vitamin A; ____  Trẻ từ 24 đến 60 tháng tuổi uống thuốc tẩy giun 2 lần/năm; ____  Thực hiện vệ sinh ăn uống, vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường phòng, chống nhiễm giun; ____  Phụ nữ tuổi sinh đẻ, phụ nữ có thai cần uống viên sắt/axit folic hoặc viên đa vi chất theo hướng dẫn; ____  Từ ngày 08 - 15/6/2019, các bậc phụ huynh hãy đưa trẻ dưới 5 tuổi đi cân tại các Trạm Y tế xã/phường/thị trấn. ____ 3. Bảo vệ môi trường: ____  Hãy cùng nhau bảo vệ bầu không khí trong lành; ____  Cộng đồng chung tay chống rác thải nhựa; ____  Hãy hạn chế sử dụng vật dụng làm bằng nhựa và túi ni-lông; ____  Chung tay bảo vệ môi trường xanh – sạch – đẹp. ____ 4. Hiến máu nhân đạo: ____  Một giọt máu cho đi – một cuộc đời ở lại; ____  Hiến máu cứu người, cần lắm những tấm lòng; ____  Hãy chia sẻ sự sống bằng cách hiến máu. ____ 5. Ngày Asean phòng, chống sốt xuất huyết 15/6: ____  Khi bị sốt đến ngay cơ sở y tế để được khám, tư vấn và điều trị. Không tự ý điều trị tại nhà; ____  Cọ rửa và đậy kín các lu, khạp,… chứa nước để muỗi không vào đẻ trứng; ____  Thả cá vào các vật dụng chứa nước để diệt lăng quăng; ____  Ngủ mùng; mặc quần dài, áo tay dài để phòng muỗi đốt. ____ 6. Các biện pháp phòng bệnh sởi: ____  Khi đã mắc bệnh sởi thì người bệnh cần được cách ly từ 7 – 10 ngày để tránh lây lan trong cộng đồng; ____  Trẻ em và người lớn cần tiêm vắc-xin phòng bệnh sởi; ____  Nên thường xuyên rửa tay bằng xà phòng khi chăm sóc trẻ và tăng cường dinh dưỡng cho trẻ. ____ ____ ____ ____ ____ ____ __________Chào mừng quí vị đến với trang thông tin điện tử của Trung tâm Truyền thông - Giáo dục sức khỏe tỉnh Sóc Trăng! - The center of health communication and education in Soc Trang province ____

Có phải “bệnh khớp đớp tim”?

 

Những người bị viêm khớp dạng thấp có nguy cơ mắc bệnh và tử vong do bệnh tim mạch cao hơn.

Mối quan hệ nhân quả giữa bệnh tim mạch và viêm khớp dạng thấp khá phức tạp và dường như liên quan đến một số yếu tố nguy cơ tim mạch truyền thống như tăng huyết áp, béo phì, hút thuốc lá, đái tháo đường, cholesterol cao, cũng như các dấu hiệu viêm khớp dạng thấp.

Nguy cơ tim mạch trong viêm khớp dạng thấp 

Trong nhiều năm, các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu mối liên hệ và tập trung chú ý đến các yếu tố nguy cơ tim mạch ở những người bị viêm khớp. Người ta thậm chí còn nói rằng, viêm khớp dạng thấp là một yếu tố nguy cơ độc lập đối với bệnh tim mạch. Kết quả mà các nhà nghiên cứu đã phát hiện bao gồm: có một nguy cơ cao của bệnh tim mạch xảy ra sớm trong quá trình bệnh viêm khớp dạng thấp và thậm chí có thể có trước khi khởi phát bệnh.

Viêm đóng một vai trò quan trọng trong bệnh tim mạch 

Những người bị viêm khớp dạng thấp cho thấy tăng nhanh xơ vữa động mạch. Có thể là do tình trạng viêm của viêm khớp dạng thấp, cùng với một sự dư thừa của các cytokine tiền viêm đóng góp vào sự hình thành mảng bám xơ vữa động mạch.

Các rối loạn tự miễn dịch của viêm khớp dạng thấp góp phần làm tăng rối loạn chức năng nội mô, gây kích hoạt và di chuyển của bạch cầu trong mạch máu. Sự kết dính của bạch cầu với nội mô mạch máu là hậu quả của quá trình viêm.

Tình trạng viêm toàn thân cùng với viêm khớp dạng thấp, kết hợp với các yếu tố nguy cơ tim mạch có liên quan đến lối sống có thể góp phần gây ra bệnh tim mạch trong viêm khớp dạng thấp.

CO PHAI BENH  KHOP DOT TIM

Những người bị viêm khớp dạng thấp cho thấy tăng nhanh xơ vữa động mạch

Mối liên quan bệnh tim mạch và viêm khớp dạng thấp 

Khoảng một nửa số ca tử vong ở những người bị viêm khớp dạng thấp có liên quan đến bệnh tim mạch. Tỷ lệ tử vong tim mạch tăng 50% và nguy cơ mắc bệnh tim mạch tăng 48% ở những người bị viêm khớp dạng thấp so với dân số nói chung. Những người bị viêm khớp dạng thấp trong một thời gian dài, những người có biểu hiện bệnh ngoài khớp, cũng như những người có yếu tố thấp khớp và anti CCP (tự kháng thể) có nguy cơ tử vong tim mạch cao nhất.

3 nguyên tắc và những khuyến cáo 

Tổ chức EULAR (the European League Against Rheumatism: Liên minh châu Âu chống lại bệnh thấp khớp) đã đưa ra 3 nguyên tắc bao quát và 10 đề xuất khuyến cáo để quản lý nguy cơ tim mạch ở những người bị viêm khớp dạng thấp, cụ thể dưới đây:

3 nguyên tắc bao quát: 

- Các bác sĩ phải nhận thức được nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao hơn ở những người bị viêm khớp dạng thấp so với dân số nói chung.

- Các bác sĩ chuyên khoa thấp khớp luôn đảm bảo quản lý tốt các nguy cơ bệnh tim mạch trên bệnh nhân viêm khớp dạng thấp và các bệnh viêm khớp khác.

- Việc sử dụng NSAID (thuốc chống viêm không steroid) và corticosteroid phải theo các khuyến cáo cụ thể từ EULAR và ASAS (Assessment of Spondylo Arthritis International Society: Tổ chức quốc tế đánh giá bệnh thoái hóa khớp).

Những khuyến cáo:

- Diễn tiến của bệnh cần được kiểm soát tối ưu trong viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp và viêm khớp vẩy nến để giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

- Đánh giá nguy cơ mắc bệnh tim mạch được khuyến cáo cho những người bị viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp vẩy nến ít nhất một lần mỗi 05 năm và có thể theo bất kỳ thay đổi lớn nào đối với việc điều trị.

- Mức cholesterol và HDL nên được sử dụng trong đánh giá nguy cơ tim mạch của viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp vẩy nến.

- Tầm soát các mảng xơ vữa động mạch không triệu chứng bằng cách sử dụng siêu âm động mạch cảnh có thể được coi là một phần của đánh giá nguy cơ tim mạch ở những người bị viêm khớp dạng thấp.

- Khuyến cáo lối sống tập trung chủ yếu vào chế độ ăn uống lành mạnh, tập thể dục thường xuyên và cai thuốc lá.

- Thuốc chống tăng huyết áp và thuốc nhóm statin có thể được sử dụng trong cộng đồng. Thuốc chống viêm NSAID nên được chỉ định một cách thận trọng đối với viêm khớp dạng thấp và viêm khớp vẩy nến, đặc biệt là đối với những người bị bệnh tim mạch hoặc có các yếu tố nguy cơ đã biết. Đối với việc điều trị kéo dài, liều corticosteroid nên được giữ ở mức thấp và nên giảm dần nếu có tình trạng thuyên giảm của bệnh thấp.

- Thực tế lâu nay, nguy cơ mắc bệnh tim mạch ở những người bị viêm khớp dạng thấp đã bị bỏ qua hoặc không được quản lý đầy đủ. Nguy cơ tim mạch gây ra bởi tăng huyết áp, béo phì, hút thuốc và rối loạn lipid máu, cùng với quá trình viêm đang diễn ra trong viêm khớp dạng thấp không nên bỏ qua. Người mắc bệnh thấp khớp nên trao đổi với bác sĩ để phối hợp với nhau giúp kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ tim mạch và diễn tiến của bệnh liên quan đến viêm khớp dạng thấp.

ww.suckhoedoisong.vn

TÌM KIẾM

LIÊN KẾT WEBSITE



phon 1 

 

Phòng chống tai nạn thương tích 1