____ 1. Các biện pháp phòng, chống HIV/AIDS: ____ - Hãy hành động để hướng tới mục tiêu 90 – 90 – 90 vào năm 2020. - Xét nghiệm là cách duy nhất để biết tình trạng nhiễm HIV của bạn.- Biết sớm tình trạng nhiễm HIV để được điều trị kịp thời.- Người có hành vi nguy cơ cao cần xét nghiệm HIV 6 tháng/lần.- Phụ nữ mang thai cần xét nghiệm HIV sớm trong 3 tháng đầu để dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con.- Hãy sử dụng bao cao su để bảo vệ cho bạn và người thân.- Dùng riêng bơm kim tiêm sạch giúp phòng lây nhiễm HIV.- Methadone – Liều thuốc vàng cho người nghiện ma túy.- Tiếp cận sớm các dịch vụ điều trị HIV/AIDS là quyền lợi của người nhiễm HIV.- Tham gia bảo hiểm y tế là cách tốt nhất để người nhiễm HIV được điều trị liên tục, suốt đời. ____ 2. Vận động tiêm vắc-xin sởi - rubella: ____ - Tiêm vắc-xin sởi - rubella là cách tốt nhất để phòng bệnh.- Bệnh sởi và rubella có thể phòng tránh bằng việc chủ động tiêm vắc-xin phối hợp sởi - rubella.- Từ ngày 03 - 07/12/2018, hãy đưa trẻ từ 1 - 5 tuổi đi tiêm bổ sung vắc-xin sởi – rubella. ____ ____ __________Chào mừng quí vị đến với trang thông tin điện tử của Trung tâm Truyền thông - Giáo dục sức khỏe tỉnh Sóc Trăng! - The center of health communication and education in Soc Trang province ____

15 lời khuyên giúp dự phòng ung thư vú

 

Ung thư vú là loại ung thư thường gặp nhất và gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ nhiều nước công nghiệp. Tuy nhiên, cần phải phát hiện sớm ung thư vú qua sự tầm soát ở những phụ nữ bình thường. Sau đây là 15 lời khuyên giúp dự phòng ung thư vú.

1. Ăn nhiều rau xanh

Các nhà nghiên cứu ở Thụy Điển tiến hành khảo sát 5.842 phụ nữ cho thấy, việc tiêu thụ nhiều rau xanh (bắp cải xanh, bông cải xanh, bắp cải Brussels,…) giảm 20-40% tỷ lệ mắc ung thư vú, vì trong rau cải giàu glucosinolate. Nghiên cứu ở Mỹ năm 2009 cho thấy, sulforaphane (họ của glucosinolate) có thể ức chế sự gia tăng tế bào và ngăn ngừa hình thành khối u ngay cả u vú. Một nghiên cứu khác trên súc vật thí nghiệm cho thấy, Indole-3-carbinol (dạng của glucosinolate) có khả năng “tự hủy” khối u ở vú.

2. Tránh những chất tẩy, thuốc trừ sâu

Các chất tẩy rửa, thuốc trừ sâu, sơn,… thường chứa PCB, organochlorés, dung môi hữu cơ làm rối loạn hoạt động nội tiết ở vú do tăng tổng hợp estrogen. Hoạt động quá mức các hormon sẽ kích thích phân chia tế bào. Theo Giáo sư Henri Joyeux - chuyên ngành Ung thư và Tiến sĩ Bérengère Arnal–Schnébelen - chuyên ngành Sản phụ khoa thì nguy cơ mắc ung thư vú tăng lên 1,4 - 2,4 lần sau khoảng 15 năm tiếp xúc với các dung môi hữu cơ gây ung thư. Ngoài ra, tiếp xúc với amiante, sợi thủy tinh, nguy cơ ung thư vú tăng 1,3 lần trong thời kỳ tiền mãn kinh.

3. Giảm một số chất béo

Thực phẩm “công nghiệp” như bánh ngọt, bánh pizza,… chứa nhiều chất béo “xấu” được gọi “trans” hoặc “hydrogénées" làm tăng nguy cơ ung thư vú. Một nghiên cứu của Inserm và Viện Gustave Roussy năm 2008 cho thấy, tỷ lệ mắc ung thư vú tăng gần như gấp đôi ở những phụ nữ có lượng acid béo “trans” tăng cao trong máu. Vì vậy, nên hạn chế lượng acid béo bão hòa như mỡ động vật, thịt xông khói, bơ,…

an rau xanh phong ung thu vu

4. Tiêu thụ nhiều chất xơ

Một nghiên cứu ở Mỹ tiến hành khảo sát 83.234 phụ nữ cho thấy, ở những phụ nữ giai đoạn tiền mãn kinh nếu tiêu thụ ít nhất 5 loại hoa quả và rau xanh mỗi ngày thì nguy cơ mắc ung thư vú giảm 23%. Điều này cho thấy, trong trái cây và rau quả rất giàu chất xơ, chất khoáng, acid folic, lycopen. Những thực phẩm giàu chất xơ như mận, chà là, đậu lăng,… Những thực phẩm giàu acid folic như cải xoong, rau bina, măng tây,… và những thực phẩm giàu lycopen như cà chua, dưa hấu, bưởi hồng,…

5. Theo dõi cân nặng 

Thời kỳ mãn kinh, nếu tăng khoảng 10% trọng lượng cơ thể thì tăng nguy cơ mắc ung thư vú từ 30 - 50%. Lượng đường và mỡ tăng cao trong vú sẽ hình thành “tuyến nội tiết âm tính” và từ đó sản sinh các hormon gây ung thư. Nghiên cứu ở Mỹ cho thấy, sau 10 năm tỷ lệ sống ở bệnh nhân ung thư vú bị béo phì là 40%, trong khi đó không béo phì là 54%.

6. Lưu ý việc điều trị bằng hormon ở giai đoạn mãn kinh

Việc điều trị bằng liệu pháp thay thế hormon trong thời kỳ mãn kinh làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú do lượng hormon estrogen “bổ sung” đã kích thích sự phân chia tế bào vú. Nghiên cứu ở Mỹ năm 2009 cho thấy, nguy cơ ung thư vú giảm có ý nghĩa khi ngừng điều trị hormon.

7. Tăng thêm thực phẩm giàu phyto-oestrogènes!

Đậu nành, hạt lanh,… là những thực phẩm giàu phyto-oestrogènes. Giúp giảm lượng estrogen khi nó ở mức cao, ngăn cản sự kích thích quá mức phát triển của tuyến vú, vì vậy, giảm nguy cơ mắc ung thư vú. Một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy, những phụ nữ tiêu thụ nhiều đậu nành thì nguy cơ mắc ung thư vú giảm 23 - 47%. Không nên dùng phyto-oestrogènes ở những phụ nữ đã mắc ung thư vú hoặc có người trong gia đình mắc ung thư vú; tốt nhất nên tư vấn ý kiến của bác sĩ.

8. Lưu ý một số loại thuốc

Theo Giáo sư Hervé Gautier - chuyên ngành Ung thư cho biết, việc dùng một số loại thuốc (thuốc chống trầm cảm, lợi tiểu) làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú, tuy nhiên, cần xem xét thận trọng vì có thể còn có sự kết hợp với các yếu tố nguy cơ khác gây nên sự tăng trưởng của những tế bào bất thường.

9. Nên cảnh giác với các chất khử mùi?

Aluminium, parabens là hai hóa chất được tìm thấy trong phần lớn các chất khử mùi. Các chất này làm rối loạn hoạt động hormon và tăng nguy cơ mắc ung thư vú (đặc biệt sau cạo râu hoặc tẩy lông). Tuy nhiên, vẫn chưa có bằng chứng khoa học nào cho thấy mối liên quan giữa chất khử mùi và ung thư vú, tốt nhất nên cẩn thận!

10. Cẩn thận với thức uống có cồn

Theo Giáo sư Hervé Gautier, việc tiêu thụ nhiều thức uống có cồn làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú, vì lượng cồn tăng cao sẽ tăng kích thích sản xuất estrogen, tạo thuận lợi cho sự phân chia tế bào. Thêm vào đó, cồn (alcool) khi vào cơ thể sẽ chuyển hóa thành acétaldéhyde, được biết như một chất gây ung thư.

11. Bỏ thuốc lá

Theo Giáo sư Henri Joyeux và Tiến sĩ Bérengère Arnal-Schnébelen thì những phụ nữ hút thuốc tăng 30% nguy cơ mắc ung thư vú, đặc biệt hút trước tuổi 20 và ít nhất 20 điếu mỗi ngày. Theo Giáo sư Hervé Gautier thì những tác hại của thuốc lá đối ung thư vú càng rõ ràng khi kèm uống rượu. Theo nghiên cứu ở Mỹ năm 2008 thì Nicotin thúc đẩy phát triển khối u ở vú và di căn.

12. Tập thể dục

Theo Giáo sư Hervé Gautier ở những người nhàn rỗi có nguy cơ ung thư vú cao hơn, lý do là khi tập thể dục giúp giảm lượng estrogen và chất béo. Điều này giảm nguy cơ mắc ung thư vú từ 20 - 40% so với người không hoạt động. Luyện tập tối thiểu 30 phút mỗi ngày, 5 ngày trong tuần sẽ giảm 25% nguy cơ mắc ung thư vú.

13. Kiểm tra sức khỏe định kỳ

Theo Trung tâm phòng chống Ung thư - Pháp thì cách đây 20 năm, tỷ lệ sống sót trung bình của những phụ nữ mắc ung thư vú là dưới 50% nhưng bây giờ là 90% nếu được phát hiện sớm. Tốt nhất nên siêu âm vú ở phụ nữ độ tuổi 50 - 74, 2 năm một lần.

14. Nuôi con bằng sữa mẹ

Theo Viện Nghiên cứu Ung thư Hoa Kỳ và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), nuôi con bằng sữa mẹ trong ít nhất 6 tháng đầu đời không chỉ giúp trẻ phát triển toàn diện, khỏe mạnh mà còn là một trong những biện pháp hữu hiệu giúp giảm nguy cơ ung thư vú, lý do khi cho con bú sẽ giúp “di tản” các chất gây ung thư có trong tế bào vú.

15. Nên sinh con đầu lòng trước tuổi 30

Theo Giáo sư Henri Joyeux thì một thai kỳ sớm sẽ làm gia tăng đáng kể một lượng oestriol -một hormon giúp giảm 50 - 70% nguy cơ mắc ung thư vú sau này và sau mỗi lần sinh cũng giảm được nguy cơ mắc ung thư vú do sau khi sinh và cho con bú, tuyến vú ít nhạy cảm hơn với các chất gây ung thư.

www.suckhoedoisong.vn

TÌM KIẾM

LIÊN KẾT WEBSITE